THƯƠNG MẠI DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC (1858 – 1945)

Tinh thần cơ bản của chính sách khai thác thuộc địa Đông Dương là: “Thuộc địa Đông Dương phải được đặc biệt dành riêng cho thị

Phác thảo bức tranh kinh tế Thủ Đô

Các chương trình, đề án công tác của Thành ủy trong lĩnh vực phát triển kinh tế và chủ trương kích cầu của Chính phủ được

Khẩn trương, quyết liệt tái cơ cấu Vinashin

Theo ban chỉ đạo, vai trò của Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng là quan trọng trong việc hợp tác với Vinashin cùng các

Tin vắn chứng khoán ngày 18/8

Ngày 16/8/2010, Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM đã có công văn số chấp thuận về nguyên tắc cho Công ty Cổ phần Đầu tư Địa

Bài 1: Những vấn đề của Việt Nam

CôngThương – “Muốn làm được như vậy chính phủ phải tạo ra môi trường kinh doanh tốt, chính sách phát triển hợp lý, các doanh nghiệp

 

CEO Vinamilk vào top 50 nữ doanh nhân quyền lực nhất châu Á

Theo đánh giá của Forbes, bà Mai Kiều Liên là “con át chủ bài” trong ngành sữa của Việt Nam.

IRV - Tạp chí uy tín Forbes của Mỹ vừa lần đầu tiên công bố danh sách 50 doanh nhân nữ quyền lực nhất của khu vực châu Á. Bà Mai Kiều Liên, Tổng giám đốc (CEO) của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) có tên trong danh sách này.

Forbes cho biết, từ năm nay trở đi, họ sẽ soạn thảo danh sách thường niên này nhằm tôn vinh các nữ doanh nhân của khu vực châu Á ở mọi lĩnh vực. “Nếu như thành công trong kinh doanh là sự kết hợp giữa năng lực tài chính, ý tưởng, nhiệt huyết và khả năng lãnh đạo, thì 50 người phụ nữ trong danh sách chính là hiện thân của sự kết hợp đó”, Forbes viết.

Forbes định nghĩa “quyền lực” là khả năng định hình một phần quan trọng của môi trường kinh doanh. Cũng theo tạp chí này, hầu hết các gương mặt trong danh sách đều lãnh đạo doanh nghiệp có doanh thu từ 100 triệu USD trở lên. Họ là những phụ nữ đã vượt qua những rào cản lớn, trong đó bao gồm cả những định kiến về giới, để có được vị trí ngày hôm nay.

Theo đánh giá của Forbes, bà Mai Kiều Liên là “con át chủ bài” trong ngành sữa của Việt Nam, có công đưa Vinamilk trở thành công ty vào hàng blue-chip ở đây.

Sinh ra tại Pháp và được đào tạo ở Nga, bà Mai Kiều Liên về Việt Nam vào năm 1976 và vào làm việc tại công ty tiền thân của Vinamilk ngày nay. Dưới sự lãnh đạo của bà Mai Kiều Liên, Vinamilk đã trở thành không chỉ một trong những thương hiệu có khả năng sinh lời cao nhất ở Việt Nam mà còn là một thương hiệu uy tín trên toàn châu Á.

Trong số 50 nữ doanh nhân góp mặt trong danh sách, Trung Quốc (bao gồm Trung Quốc đại lục và các vùng lãnh thổ Đài Loan, Hồng Kông và Macao) có 21 đại diện; Ấn Độ đóng góp 8 gương mặt, Singapore có 5 người, Nhật Bản 3 nhân vật; Úc 2 người. Hàn Quốc và Indonesia mỗi nước có 4 người. Còn lại, Philippines, Thái Lan và Việt Nam, mỗi nước có một nữ doanh nhân được Forbes tôn vinh.

Làm người gia công vĩ đại hay ông chủ bé con?

Lựa chọn gia công để có doanh thu lớn, lợi nhuận trên sản phẩm nhỏ nhưng tổng lợi nhuận lớn hay là chọn con đường nội địa hóa, thương hiệu Việt với đầu tư lớn, doanh thu tăng chậm rồi giảm. Đó là sự lựa chọn của mỗi doanh nghiệp

Trong sản xuất, kinh doanh vấn đề thương hiệu luôn được các doanh nghiệp quan tâm. Chuỗi giá trị sản phẩm không chia công bằng cho hao phí sức lao động của các bên mà có sự khác biệt bởi lợi thế so sánh (công nghệ, tay nghề, uy tín, vốn,…). Biết đối tác có lợi ích cao nhưng không dễ dành lợi ích.
Xuất hiện tư duy: Muốn làm từ A-Z (nội địa hóa toàn bộ, gắn thương hiệu riêng vào sản phẩm); Nội địa hóa từng bước; Xây dựng thương hiệu riêng; Chấp nhận các thương hiệu do bên đặt hàng yêu cầu miễn tham gia sâu vào giá trị sản phẩm.

Thương hiệu thương mại phủ lên thương hiệu sản xuất là chuyện đã xẩy ra. Người tiêu dùng uống bia nhà hàng quảng cáo “Bia Hà Nội” với tín nhiệm nhà hàng, hoặc mua hàng nông sản thực phẩm ở siêu thị có uy tín là yên tâm. Hãng máy tính Dell giỏi về thiết kế và bán hàng nhưng không sản xuất toàn bộ các chi tiết sản phẩm. Trụ sở hãng giày Nike tại Mỹ nhưng chủ yếu sản xuất ở nước ngoài; Hãng Intel ít sản xuất sản phẩm điện tử tiêu dùng cuối cùng nhưng là thương hiệu hạng lớn của thế giới bởi hầu hết các máy tính đều hiện lên con chíp Intel…

Mượn thương hiệu để thay thế thương hiệu đó là trường hợp của các hãng máy thu hình Nhật Bản những năm 60 – 70 của thế kỷ trước đã tiếp cận thị trường Mỹ, chấp nhận ti vi Nhật mang thương hiệu Mỹ, sau đó lấn át các nhà sản xuất, chiếm gần như toàn bộ thị trường. Hàn Quốc đi sau nhưng khá nhanh chóng tham gia thị phần máy thu hình bán tại Mỹ (Thương hiệu Hàn Quốc này chiếm 34,5% lượng TV LCD, 44,1% lượng TV Plasma, 47,1% lượng Smart TV và 58,4% lượng TV 3D tính chung tại Mỹ trong tháng 5/2011). Nhưng các nhà công nghệ thuộc Phòng thí nghiệm quốc gia Sandia (Mỹ) đang nghiên cứu phát triển một công nghệ mới cho phép nhìn xuyên vật thể… Một ngày kia, công nghệ nguồn xuất xứ từ Mỹ có thể làm cuộc cách mạng mới về thiết bị nghe nhìn?

Chuyện ngụ ngôn về con ễnh ương muốn to bằng con bò, ễnh ương phùng mang căng bụng với kết cục vỡ; hoặc dân gian có câu “Thấy củ mài vác mai đi đào” là những ảo tưởng mà nhiều doanh nghiệp đầu tư theo phong trào, công nghệ cũ, quản trị kém thì mãi mãi không còn được là người “xếp hàng sau cùng”.

Thị trường nghiệt ngã, đặc biệt là vấn đề duy trì lợi ích nhóm các nhà sản xuất kinh doanh. Chúng ta mong muốn nội địa hóa dệt may bằng trồng bông, bằng nhập sợi về dệt, sản xuất sợi, nhưng 14 tỷ USD xuất khẩu dệt may (năm 2011) phụ thuộc vào thị trường nước ngoài. Các nhà sản xuất nguyên liệu, xuất nhập khẩu và phân phối luôn bảo vệ lợi ích của họ, đặc biệt là khi sản phẩm nội địa hóa của chúng ta không đáp ứng chất lượng xuất khẩu. Có nhà sản xuất nói “Nếu các bạn nội địa hóa, tạo thương hiệu riêng thì tốt quá nhưng thuyết phục bên nhập khẩu thì khó đấy”. Những khát vọng nội địa hóa máy bay ở Inđônnêxia, ô tô ở Mã Lai là những trải nghiệm vật vã chưa hoàn hảo!

Ngoài ra, những lợi ích thương mại, sự bày đặt sẵn, chỉ việc gia công với đơn giá hời, khiến nhiều nhà sản xuất kinh doanh trong nước không còn thiết tha với nội địa hóa, thương hiệu Việt.

Tuy nhiên, nhiều chủ doanh nghiệp mong muốn trở thành nhà gia công vĩ đại với doanh số ngày càng khủng, tăng uy tín doanh nghiệp hơn làm ông chủ lọ mọ nội địa hóa với sản phẩm khó cạnh tranh. Xuất khẩu dệt may, hàng điện tử từ Việt Nam là thành đạt ban đầu về năng lực gia công, lắp ráp!

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, chúng ta quan niệm thương hiệu không chỉ là sản phẩm tiêu dùng cuối cùng mà là rất nhiều sản phẩm trung gian. Lựa chọn gia công để có doanh thu lớn, lợi nhuận trên sản phẩm nhỏ nhưng tổng lợi nhuận lớn hay là chọn con đường nội địa hóa, thương hiệu Việt với đầu tư lớn, doanh thu tăng chậm rồi giảm. Đó là sự lựa chọn của mỗi doanh nghiệp. Nội địa hóa, tạo dựng thương hiệu hay cặm cụi gia công cho thương hiệu khác đều có thành bại ở từng doanh nghiệp, mỗi giai đoạn.

Ông chủ nhà máy Ô tô Xuân Kiên khát khao ô tô thương hiệu Việt, ông đã tạo dựng hai mẫu xe bốn chỗ ngồi, cho chạy thử nghiệm, vấn đề thời gian nào thì chiếc ô tô thương hiệu Việt có thị phần đáng kể? Trong khi đó, Ô tô Trường Hải thì làm tất cả để có nhiều ô tô xuất xưởng để một ngày tạo dựng ô tô thương hiệu Việt với sản lượng tăng, chất lượng và giá cả cạnh tranh.

Mô hình liên kết bốn nhà theo “chuỗi giá trị gia tăng” khá phức tạp

Bạn tôi không quá thành thạo làm ruộng nhưng anh ta đã lấy được lợi ích từ hạt thóc bởi làm thuê việc cày bừa, tuốt lúa, xát gạo cho cả làng và đang cung ứng nhiều nông cụ, vật tư nông nghiệp, dịch vụ nông thôn. Anh chấp nhận là “Người làm thuê vĩ đại hơn làm ông chủ bé con” bởi anh biết các công ty cung ứng thức ăn chăn nuôi có lợi nhuận không nhỏ so với người chăn nuôi. “Giằng co” giá trị gia tăng trong sản phẩm, dịch vụ là chuyện muôn thuở của kinh tế thị trường toàn cầu hóa!

Doanh nghiệp nước ngoài đang hướng tới Việt Nam

(Ảnh minh họa: Hồng Kỳ/TTXVN)

IRV - Bài đăng trên Thời báo Tài chính của Anh ngày 14/3 cho rằng Việt Nam đang là một lựa chọn thay thế Trung Quốc cho các doanh nghiệp nước ngoài nhờ mức lương công nhân thấp, tuy nhiên, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức bởi lợi thế mức chi phí sản xuất thấp của Việt Nam sẽ không kéo dài.

Bài báo phân tích tiền lương tăng nhanh có thể là một vấn đề đau đầu đối với các nhà sản xuất cũng như giới lãnh đạo tại Trung Quốc, nhưng đó lại là tin tốt cho các doanh nghiệp tại Việt Nam.

Công ty XP Power – nhà sản xuất linh kiện điện tử của Anh, vừa mở tại tỉnh Bình Dương, là một ví dụ.

XP Power là một trong nhiều nhà sản xuất đang tìm cách đa dạng hóa các cơ sở sản xuất ngoài các cơ sở đã có tại Trung Quốc để có thể tận dụng mức lương lao động thấp và giảm thiểu những rủi ro của việc chỉ tập trung sản xuất tại một địa điểm – sự nguy hiểm đã được thấy rõ hồi năm ngoái qua những tác động đối với ngành công nghiệp từ trận lũ tại Thái Lan và động đất tại Nhật Bản.

Sự xuất hiện của các công ty như XP Power, sẽ thử thách xem Việt Nam liệu có đủ những công nhân lành nghề và cơ sở hạ tầng cần thiết để thu hút thêm nhiều nhà sản xuất hàng hóa chất lượng cao và công nghệ tiên tiến hay không.

Các doanh nghiệp tiên phong như Intel và Samsung đã thành lập nhà máy tại Việt Nam và đẩy mạnh năng lực sản xuất. Nokia hồi năm ngoái cũng công bố kế hoạch xây dựng một nhà máy sản xuất điện thoại di động ở miền Bắc Việt Nam.

Ông S.Kesavan, Giám đốc Công ty Điện tử Jabil Circuit (Mỹ) tại Việt Nam, nhận định: “Năng suất tại Việt Nam vẫn thua Trung Quốc một chút, nhưng sự leo thang chi phí gần đây tại Trung Quốc khiến chúng tôi buộc phải chuyển địa điểm sản xuất để có thể cạnh tranh.”

Jabil Circuit hiện có kế hoạch tăng lực lượng lao động tại nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh, nơi sản xuất đồng hồ đo năng lượng và các đầu đọc thẻ tín dụng, từ 1.000 lên 3.000 nhân viên trong hai năm tới.

Công ty ScanCom International của Đan Mạch – một trong những nhà xuất khẩu đồ gỗ ngoài trời hàng đầu thế giới, là một trong những công ty đang hướng tới dây chuyền sản xuất giá trị cao tại Việt Nam.

Theo Giám đốc điều hành Stig Maasbol của ScanCom, công ty này đã tăng gấp đôi sản lượng tính trên mỗi lao động tại nhà máy ở Bình Dương với 4.000 lao động bằng cách trang bị các thiết bị hiện đại để chuyển phế thải thành các sản phẩm mới và tăng cường đào tạo.

ScanCom có kế hoạch tăng gấp đôi sản lượng một lần nữa trong vòng hai năm tới bằng cách trang bị máy móc tiên tiến hơn, chẳng hạn như các rôbốt khoan và chà nhám có khả năng thay thế cho 50 lao động thường và chỉ cần 1 người giám sát.

Giám đốc Stig Maasbol nói rằng: “Nếu sự hấp dẫn của Việt Nam chỉ còn là tiền lương thì các công ty sẽ sớm hướng tới Campuchia và Myanmar”./.

THƯƠNG MẠI DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC (1858 – 1945)

Tinh thần cơ bản của chính sách khai thác thuộc địa Đông Dương là: “Thuộc địa Đông Dương phải được đặc biệt dành riêng cho thị trường Pháp”…, “Ngành xuất cảng của nước Pháp sẽ thấy nơi đây là nguồn tiêu thụ hàng hóa rất có lợi cho mình”…Pôn Dume toàn quyền Đông Dương nhiệm kỳ 1897-1902 đã nói thẳng dã tâm của thực dân Pháp là: “dứt khoát coi Việt Nam là một địa
Thương mại dưới thời Pháp thuộc (1858-1945)

Tư bản Pháp cuối cùng đã đặt được ách đô hộ của chúng ở nước ta. Mục tiêu cuối cùng của chúng là mở ra thị trường tiêu thụ hàng hóa, khai thác nguyên liệu cho công nghiệp chính quốc để đạt siêu lợi nhuận tối đa của chúng. Vì vậy, ngay từ khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông chúng vội vàng mở mang thương nghiệp để vơ vét thóc gạo xuất cảng ngày càng nhiều sang chính quốc và nhiều nước khác trên thế giới.

Chúng chiếm Gia Định năm 1859, nhưng ngay năm sau: 1860 chúng đã xuất khẩu 58.045 tấn gạo. Bảy năm sau, đến năm 1867 chúng đã xuất khẩu 197.889 tấn gạo và đến năm 1870 chúng đã xuất khẩu đến 230.031 tấn. Chỉ trong vòng 10 năm số nông phẩm xuất khẩu đã tăng gấp 4 lần. Đến đầu thế kỷ XX trở đi, hàng năm chúng đều xuất khẩu trên dưới một triệu tấn gạo, đứng hàng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Miến Điện.

Thực dân Pháp ưu đãi bọn mại bản người Hoa: cho bọn này lãnh thầu xây cất, thu mua lúa từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, lập nhà máy xay lúa gạo, cho công khai mở các loại cửa hàng độc quyền, công khai mở cả cửa tiệm thuốc phiện, sòng cờ bạc và nhà chứa.

Nguồn lợi xuất khẩu lúa gạo, đã kích thích thực dân Pháp cướp đoạt ruộng đất và lôi cuốn cả giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam vào guồng máy thương nghiệp, hình thành nên tầng lớp thương nhân tư sản mại bản rất sớm và khá đông ở Sài Gòn – Gia Định đầu thế kỷ XX.

Trong “dự án chương trình hành động” của toàn quyền Đông Dương do Pôn Dume gởi cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp ngày 22/3/1897, đã nói rõ trong điểm thứ tư là: “Đẩy mạnh nền sản xuất và thương mại bằng việc phát triển công cuộc thực dân của người Pháp và lao động của người bản xứ” (Theo L’Indochine Francaise Souverir).

Tinh thần cơ bản của chính sách khai thác thuộc địa Đông Dương là: “Thuộc địa Đông Dương phải được đặc biệt dành riêng cho thị trường Pháp”…, “Ngành xuất cảng của nước Pháp sẽ thấy nơi đây là nguồn tiêu thụ hàng hóa rất có lợi cho mình”…Pôn Dume toàn quyền Đông Dương nhiệm kỳ 1897-1902 đã nói thẳng dã tâm của thực dân Pháp là: “dứt khoát coi Việt Nam là một địa bàn kinh doanh và phải quản lý nó như một địa bàn kinh doanh”.

Lúc đầu thực dân Pháp còn vấp phải sự cạnh tranh của thương nhân Hoa kiều và Ấn kiều. Năm 1883 thực dân Pháp mới có 8 cửa hiệu ở Hà Nội và Hải Phòng, trong khi đó Hoa kiều có 138 cửa hiệu. Khối lượng hàng ngoại quốc nhập vào Đông Dương Hoa kiều chiếm 2/3.

Hàng Pháp vào Việt Nam khó cạnh tranh với hàng Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á vì giá thành hàng hóa các nước này hạ hơn do nhân công bản xứ của họ rẻ mạt và không tốn tiền vận chuyển như Pháp.

Nhưng từ 1887, thực dân Pháp đã bảo hộ thương mại của chúng bằng chính sách thuế quan. Hàng Pháp vào việt Nam chỉ phải đóng thuế bằng 2,5% trị giá hàng hóa, còn hàng của các nước khác phải đóng tới 5%. Ngày 11/1/1892, thực dân Pháp lại ra một đạo luật thuế quan mới, quy định hàng Pháp được hoàn toàn miễn thuế, còn hàng hóa nước khác phải đóng thuế từ 25% đến 120% giá trị hàng hóa. Như vậy hàng hóa Pháp được tự do tràn vào Việt Nam. Nhiều công ty thương mại Pháp được thành lập từ cuối thế kỷ XIX đã tăng cường hoạt động ở khu vực này.

Công ty Mác-xây hải ngoại lập năm 1887; hãng Liên hiệp thương mại Đông Dương và Phi Châu (L’U.C.I.A) lập năm 1904; tập đoàn Boi lăng đai lập năm 1905; hãng xuất khẩu thuộc địa lập năm 1896; hãng Decua và Cabô lập năm 1913; hãng Doni Phơrerơ Đông Dương lập năm 1922…

Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã dành hầu hết những ngành xuất nhập khẩu ở Đông Dương riêng cho Pháp, đưa việc xuất nhập khẩu 2 chiều giữa Pháp và Đông Dương tăng nhanh chóng.

Trong khoảng 25 năm từ 1888 đến 1913, hàng hóa Pháp bán sang Đông Dương (chủ yếu là Việt Nam) tăng hấp 4 lần. Nếu so sánh 2 thời kỳ tiếp nhau: 1902-1906 và 1897-1901, thì tổng số hàng nhập từ Pháp vào Đông Dương tăng 420% và tổng số hàng nhập từ Đông Dương sang Pháp tăng 350%. Trong khi đó hàng xuất từ Đông Dương ra các nước ngoài khác cũng như hàng của các nước ngoài này nhập vào Đông Dương chỉ tăng có 36%.

Ngoài quan hệ thương mại có tính chất độc quyền nói trên, tính chất trao đổi hàng hóa cũng bộc lộ rõ dã tâm khai thác thuộc địa cung cấp nguyên liệu cho chính quốc.

Việt Nam giàu nguyên liệu cao su, nhưng tất cả phải xuất sang Pháp để rồi lại nhập các chế phẩm cao su từ Pháp vào. Hàng hóa của Việt Nam mà Pháp cần đều phải dành riêng cho Pháp, không được xuất ra nước khác. Việt Nam phải nhập những hàng hóa thừa ế hoặc kém phẩm chất của Pháp.

Chính đô đốc Decoux (toàn quyền đông Dương thời chiến tranh thế giới lần thứ II) về sau cũng phải phê phán: “Một chính sách hẹp hòi, ích kỷ, thiển cận, không thể tiến hành bất kỳ một đường lối công nghiệp hóa hợp lý nào cho Đông Dương, không phát triển được tiềm lực và tài nguyên của Đông Dương… nó không cho Đông Dương tiến dần tới chế độ tự túc, một khi có chiến tranh xảy ra”.

Bằng độc quyền thương mại, thực dân Pháp còn đưa ra chế độ thuế cực kỳ vô lý. Vậy mà từ 1887 trở đi, mỗi khi Bắc Kỳ bị thiên tai phải đưa gạo từ miền Nam ra thì thực dân Pháp đánh thuế rất cao như gạo nhập từ nước ngoài vào. Có lúc miền Bắc bị thiếu đói, nhưng chúng vẫn vơ vét gạo ở miền Bấc để xuất cảng, rồi lại đưa gạo từ Nam Kỳ ra để đánh thuế, lấy lời v.v…

Độc quyền của thực dân Pháp về thương mại còn là phương tiện để bần cùng hóa nhân dân lao động Việt Nam. Chúng nhập hàng dệt để bóp chết ngành dệt thủ công cổ truyền của Việt Nam. Các hàng mỹ nghệ xuất khẩu có giá trị như sơn mài, thêu, ren, đăng ten, khẩn chạm, đan lát, do những bàn tay khéo léo của thợ thủ công Việt Nam sản xuất cũng bị bọn tư bản Pháp và Hoa kiều giữ độc quyền thu mua với giá rẻ mạt để xuất cảng kiếm lợi nhuận cao.

Trong độc quyền thương mại, thực dân Pháp đã sử dụng lá bài Hoa kiều vì tư bản Hoa kiều là những kẻ có đủ sức mua những hàng hóa của Pháp để bán lại ở Việt Nam. Chính vì quyền lợi của tư bản Pháp mà chính quyền thực dân ở Đông Dương đã ưu đãi thương nhân Hoa kiều.

Nhưng mặt khác, cũng phải khách quan thừa nhận dưới thời thực dân Pháp, thương nhân Hoa kiều và tư bản Pháp đã mở mang thương nghiệp khá mạnh, tạo nên một nền thương nghiệp hiện đại với những phương pháp doanh nghiệp tối tân hiện đại như mở công ty và giao thiệp với ngân hàng. Những công ty này đã phát triển từ những công ty cổ phần (Société parations) tiến lên theo các hình thức “hợp tư” (en partilipation), “lưỡng hợp” (en commandite), vô hạn trách nhiệm (en non collectif), hữu hạn vô danh công ty (Société anonyme) v.v… Đặc biệt từ sau các cuộc đại chiến và các cuộc khủng hoảng kinh tế, chính sách thương mại của Pháp chú trọng nhiều hơn về thuộc địa, nên việc buôn bán của Đông Dương với nước Pháp càng ngày càng phát đạt hơn, đem lại nhiều thuận lợi hơn cho tư bản thương nhân Pháp.

Theo: edu.goonline.vn

Phác thảo bức tranh kinh tế Thủ Đô

Các chương trình, đề án công tác của Thành ủy trong lĩnh vực phát triển kinh tế và chủ trương kích cầu của Chính phủ được thực hiện có hiệu quả, biến khó khăn, thách thức thành cơ hội phát triển. Bình quân 5 năm (2006 – 2010), tổng sản phẩm nội địa GDP thành phố dự kiến tăng 10,4%/năm, cao gấp 1,5 lần mức tăng trưởng bình quân chung của cả nước. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng: dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực trình độ cao, chất lượng cao và sản phẩm mũi nhọn.

Trong cơ cấu GDP, dịch vụ được ưu tiên đầu tư phát triển, chiếm tỷ trọng cao. Các ngành dịch vụ có trình độ, chất lượng cao như thương mại, tín dụng – ngân hàng, vận tải, bưu chính – viễn thông, tư vấn, y tế, giáo dục, v.v. được chú trọng phát triển, có mức tăng trưởng cao. Hệ thống lưu thông, phân phối hàng hóa và các dịch vụ sau bán hàng được củng cố, phát triển. Du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, đóng góp tích cực vào thành tựu chung của kinh tế Thủ đô. Kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội, đạt mức tăng trưởng cao, tăng bình quân 18,3%/năm, trong đó xuất khẩu địa phương dự kiến tăng 20%/năm. Cơ cấu hàng xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng hàng công nghiệp và chế biến, giảm dần xuất khẩu nguyên liệu thô, các mặt hàng gia công có giá trị tăng thêm nội địa thấp. Thị trường nhập khẩu hàng hóa được mở rộng, bao gồm 165 nước và vùng lãnh thổ. Giá trị nhập siêu trên địa bàn đã chậm lại, tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu thấp hơn tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu.

Điều đáng quan tâm là, công nghiệp phát triển có chọn lọc, tập trung vào các ngành có trình độ công nghệ cao, như: điện tử – tin học, viễn thông, công nghệ sinh học, cơ khí chính xác và vật liệu mới, các nhóm sản phẩm công nghiệp có lợi thế và thương hiệu. Một số ngành công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chế biến nông sản và hoạt động của làng nghề được khuyến khích phát triển. Thành phố đã rà soát, xây dựng, điều chỉnh quy hoạch các khu cụm công nghiệp theo hướng bền vững; quan tâm xử lý, di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư theo quy hoạch. Ngành xây dựng đạt mức tăng bình quân 10,3%/ năm, góp phần tăng cường thu hút đầu tư phát triển, thúc đẩy tăng trưởng của các ngành sản xuất và dịch vụ.

Trên mặt trận nông nghiệp, cơ cấu nội ngành chuyển dịch theo hướng tích cực: tăng tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản và dịch vụ nông nghiệp. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp giai đoạn 2006 – 2010 bình quân 1,75% /năm; tổng sản lượng lương thực đạt hơn một triệu tấn/năm. Cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng hiệu quả: diện tích trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả đặc sản tiếp tục được mở rộng. Coi trọng việc ứng dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Bước đầu hình thành một số vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa với năng suất và chất lượng cao ở các huyện Đông Anh, Từ Liêm, Hoài Đức, Thanh Trì, Mê Linh, chăn nuôi, thủy sản phát triển mạnh, các chỉ tiêu về đàn lợn, gia cầm và tổng sản lượng thịt hơi dẫn đầu cả nước.

Về công tác huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển, Hà Nội luôn là một trong các địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (cả về số lượng dự án và tổng số vốn đăng ký). Công tác xã hội hóa đầu tư tiếp tục được tập trung chỉ đạo, đạt kết quả quan trọng trên một số lĩnh vực: dịch vụ công ích đô thị, giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao,v.v. Tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn liên tục tăng qua các năm (bình quân 28,8%/năm).

Các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, cơ chế quản lý có tiến bộ. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Doanh nghiệp nhà nước được đổi mới, sắp xếp lại; hầu hết các doanh nghiệp sau sắp xếp, hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả hơn (đóng góp 36,2% GDP thành phố). Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển mạnh cả về số lượng và quy mô, ngày càng góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của thành phố. Kinh tế tập thể, nhất là loại hình hợp tác xã dịch vụ tiếp tục được củng cố. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh, có mức tăng trưởng cao. Nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển được ban hành, thực hiện đồng bộ trong các lĩnh vực : đầu tư, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường nội địa và xuất khẩu. Sức cạnh tranh chung của kinh tế Thủ đô có tiến bộ, từng bước đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trên địa bàn Thủ đô tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Phân cấp quản lý kinh tế, xã hội ngày càng được mở rộng và tăng cường, tạo điều kiện cho các cấp chính quyền cơ sở chủ động trong chỉ đạo, điều hành, góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội Thủ đô.

Khẩn trương, quyết liệt tái cơ cấu Vinashin

Theo ban chỉ đạo, vai trò của Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng là quan trọng trong việc hợp tác với Vinashin cùng các đơn vị thành viên để giải quyết nợ, cho vay vốn hoàn thiện các dự án dang dở. “Cần thông tin tới tất cả các tổ chức tín dụng, nói rõ những khó khăn, thách thức hiện tại của Vinashin, không giấu giếm tình hình, để tạo sự hợp tác tốt” – Phó Thủ tướng đề nghị. Đóng tàu thủy – một trong 3 lĩnh vực Vinashin cần tập trung phát triển. Trong ảnh: Công nhân đóng tàu tại Nhà máy đóng tàu Hạ Long thuộc Vinashin. Ảnh: THẾ DŨNG

Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã ký chỉ thị về việc thực hiện kết luận của Bộ Chính trị về Vinashin. Theo đó, Vinashin cần xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, tập trung vào 3 lĩnh vực chính: công nghiệp đóng tàu – sửa chữa tàu thủy với quy mô phù hợp; công nghiệp phụ trợ phục vụ việc đóng, sửa chữa tàu thủy; đào tạo nâng cao tay nghề cho đội ngũ CB-CNV công nghiệp tàu thủy.